Sunday, December 31, 2000

Vị thuốc từ con rết

Từ lâu con rết hay còn gọi là thiên long (rồng trời), vì có nhiều chân nên còn có tên là bách cước, bách túc. Tên vị thuốc trong YHCT là ngô công, tên khoa học (Scolopendra morsitans L.). Ở nước ta, rết có ở hầu hết các vùng miền, thường sống ở những nơi có nhiều mùn hoặc trong các khe đất, khe đá, khe gỗ mục, mái nhà...

Cách chế biến rết làm thuốc

- Dùng ngoài, bắt các con rết có kích thước đủ lớn, cho vào chậu nước sạch khoảng 3 - 5 phút để rửa sạch mùn đất. Vớt ra cho vào một dụng cụ sạch, để một lúc cho ráo nước rồi cho vào một lọ thủy tinh đã có sẵn rượu cao độ (60 - 90% ethanol). Đậy nắp kín. Để nơi cao ráo. Sau một tháng, có thể dùng được.

- Dùng trong, cũng làm sạch theo cách trên, sau đó cho rết vào cái túi vải, buộc chặt đầu túi, ngâm vào nước sạch để giết rết. Đổ ra rổ cho ráo nước. Đem phơi khô hoặc sấy khô. Cần chú ý, khi sấy rết, nhiệt độ sấy phải bắt đầu từ nhiệt độ cao, khoảng 50oC để khỏi bị ôi thiu, sau đó nâng nhiệt độ lên dần cho đến khi khô hoàn toàn. Đối với rết làm thuốc, đặc biệt là rết đem xuất khẩu, cần tạo dáng cho vị thuốc bằng cách, trước khi sấy, người ta buộc rết vào một thanh tre dẹt mảnh để giữ cho thân thẳng, sau đó xếp đều vào các giàn sấy. Sấy đến khô.

- Trước khi dùng, người ta ngắt bỏ chân, đuôi và đầu rết, sao tới khi bên ngoài có mầu vàng, có mùi thơm, lấy ra, tán mịn để dùng dưới dạng bột, hoặc phối hợp bột rết với bột hay nước sắc của các vị thuốc khác. Liều từ 0,5 - 1g/ngày.

Dùng rết chữa bệnh như thế nào?

Theo YHCT, rết có vị cay, tính ấm, có độc, quy kinh can. Có tác dụng tắt phong, chỉ kinh (hết kinh giản) được dùng trong các bệnh:

- Động kinh, điên giản, uốn ván, co giật, còn dùng trị đau dây thần kinh ở mặt: bột rết, bột toàn yết (bọ cạp), chu sa (chế theo cách thủy phi), đồng lượng, trộn đều, uống với nước ấm, ngày 3 lần, mỗi lần 0, 5 - 1g bột, uống sau bữa ăn 1 giờ, với nước ấm. Cũng có thể dùng bột rết với bột cam thảo, đồng lượng. Uống như trên, hoặc dùng 1g bột rết uống với nước sắc của 20g phòng phong. Cách uống như trên.

- Trị viêm cột sống, dùng bột rết phối hợp với bột bọ cạp, đồng lượng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 - 3g, với nước ấm, sau ăn 1 giờ.

-Chữa viêm tinh hoàn: Bột rết và bột nhục quế, lượng bằng nhau, trộn đều. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 0,5 - 1g với nước ấm, sau bữa ăn 1 giờ.

- Chữa trĩ ngoại: Lấy bột rết 0,5g, bột long não 0,2g, thêm 5ml rượu trắng (25 - 30%) để hòa tan long não và làm thành dạng dịch nhão với bột rết. Dùng hỗn dịch này bôi vào các múi trĩ.

- Chữa mụn nhọt, sưng đau: Dùng cồn rết chế ở trên, lấy tăm bông, chấm vào cồn rết, rồi chấm lên mụn nhọt, ngày nhiều lần. Mụn sẽ hết sưng đau, và nhanh khỏi.

- Đối với mụn nhọt đã vỡ loét (tràng nhạc - lao hạch), dùng bột rết và bột lá chè xanh đã sấy khô, tán bột mịn, đồng lượng, trộn đều. Trước khi rắc hỗn hợp bột này, dùng nước sắc cam thảo rửa sạch vết loét.

Kiêng kị: không dùng cho phụ nữ có thai và những trường hợp táo nhiệt, háo khát.

BS. Phạm Xuân Sinh

Món ăn

Chứng bệnh mỡ trong máu là chỉ một loại hoặc nhiều loại thành phần chất béo trong máu như cholesterol hoặc triglycerit hoặc cả hai tăng cao quá mức bình thường. Chỉ số bình thường của cholesterol trong máu từ 2,82 - 5,17mmol/lit, bình thường của triglycerit trong máu từ 0,23-1,24mmol/lit. Nó phát sinh hoặc do ăn quá nhiều chất béo, do sự tổng hợp trong cơ thể quá nhiều, hoặc do sự tiêu trừ của tổ chức ngoại vi giảm yếu. Bệnh có thể nguyên phát bẩm sinh hoặc do các bệnh khác dẫn tới.

Đông y cho rằng chứng bệnh này là do việc trao đổi vận hóa phân bố nước bọt và mồ hôi khác thường, sinh ra đờm đục trong cơ thể, làm trở ngại sự vận hành, sinh ra và biến đổi của khí huyết. Chức năng của ngũ tạng có sự mất mát, lách mất đi sự vận động của nó, thận mất đi sự biến đổi, gan mất đi sự sơ thông, phổi mất đi sự phân bố, tim mất đi vai trò chủ trì. Nên nói chứng bệnh này thuộc gốc hư ngọn thực, phép trị có thể dùng phương pháp tiêu đờm, tiết đục, vận động kiện toàn, bổ thận, mềm gan hoạt huyết... trong đó việc kết hợp chữa trị bằng ăn uống rất quan trọng.

Cháo cà rốt gạo tẻ.

Nguyên tắc ăn uống

Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả, ăn các loại thịt nạc, thịt thỏ, thịt dê..., ăn nhiều đậu và các chế phẩm từ đậu.

Không ăn mỡ động vật và nội tạng mà thay bằng dầu thực vật.

Thay đổi cách chế biến các món ăn như tăng cường hấp, luộc, ninh, nhúng, chao, hầm; không dùng phương pháp chế biến rán, hun, quay, nướng...

Giảm ăn hoặc kiêng ăn đồ ngọt.

Món cháo thuốc phòng trị mỡ máu

Cháo hải đới đậu xanh: Hải đới tươi hoặc hải đới ngâm nở 100g, đậu xanh 50g, nước 500ml nấu cháo ngày ăn 1-2 bát, dùng cho người mỡ máu cao, tăng huyết áp, đờm nhiệt nhiều.

Cháo bột ngô gạo tẻ: Quấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho nước vừa đủ, nấu thành cháo, cho bột ngô vào cháo quấy đều, đun sôi thành cháo. Điều trị có hiệu quả bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành. Người mắc bệnh mỡ máu cao nên ăn thường xuyên.

Cháo cà rốt gạo tẻ: Cà rốt tươi 2 củ, nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn vào hai buổi sáng, chiều. Cháo này có thể ăn thường xuyên, kéo dài có lợi chữa và phòng bệnh tăng huyết áp, giảm lượng mỡ trong máu, tăng cường thể lực người cao tuổi. Những người mắc bệnh đái tháo đường dùng bài thuốc này rất tốt.

Cháo gạo tẻ lá sen: Dùng 1 lá sen to, rửa sạch, sắc kỹ bỏ bã lấy nước. Cho 100g gạo vào nước lá sen, một ít đường phèn, nấu thành cháo. Bài thuốc này chữa bệnh tăng huyết áp, mỡ máu nhiều, chứng bệnh mùa hè cảm nóng, đầu óc choáng váng quay cuồng, tiểu ít, nước tiểu đỏ rất có hiệu quả, có tác dụng thanh nhiệt, giảm mỡ.

* Hành tây thêm gia vị xào không hoặc luộc, kiêng dùng mỡ động vật, mỗi ngày ăn 100g, dùng cho người mỡ máu cao kèm tăng huyết áp, bệnh van tim.

* Lấy phần cuộng dưới rau cần khoảng 20 gốc cả rễ, khoảng 500ml nước, sắc còn 200ml nước đầu uống hết, cũng như vậy sắc nước thứ hai. Uống lúc đói là tốt nhất. Dùng cho người mỡ máu cao nhất là cholesterol máu cao, gan dương huyết cao, huyết ứ, đờm ẩm nhiều.

Sơn tra.

Một số loại nước uống phòng trị mỡ máu

Nước sơn tra pha đường: Mỗi lần dùng 15-30g sơn tra đã phơi khô. Sau khi sơn tra đã sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước cho đường uống thay nước chè hàng ngày, có tác dụng giảm lượng mỡ trong máu.

* Hà thủ ô 15g, thảo quyết minh 30g, linh chi 15g, hổ trượng 30g, lá sen 15g, sơn tra 15g, lá chè 15g hãm với nước sôi uống thay chè. Uống lâu dài có thể giảm cholesterol, làm mềm mạch máu, phòng bệnh động mạch vành, bệnh tăng huyết áp..., có tác dụng chữa bệnh mất ngủ, tiêu phù nề.

* Sơn tra 10g, hoa cúc 10g, quyết minh tử 10g, sắc nước uống thay trà, dùng cho người mỡ máu cao, thích ăn cao lương mĩ vị và có kèm tăng huyết áp, gan dương quá mức bình thường.

* Vỏ lạc khô 50-100g rửa sạch, đun nước uống, ngày 1 thang, dùng cho người mỡ máu cao.

* Sơn tra 25g, ngân hoa 25g, cúc hoa 25g nấu nước uống thay nước chè, có tác dụng thông kinh mạch, giảm mỡ máu.

BS. Thu Hương

Đông y điều trị hen phế quản

Hen phế quản là tình trạng phản ứng cao độ ở phế quản trước nhiều kích thích khác nhau, biểu hiện đặc trưng là cơn khó thở với tiếng rít cò cử do co thắt cơ trơn phế quản, phù nề niêm mạc và tăng tiết dịch nhày phế quản. Cơn ho khó thở hồi phục (tự khỏi hoặc tự điều trị khỏi).

Hen phế quản rất phổ biến, ở Việt Nam hen phế quản chiếm 18,7% các bệnh phổi và chiếm 5% các cấp cứu nội khoa. Hen phế quản có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt ở người cao tuổi.

Có nhiều nguyên nhân, song đều xảy ra 2 loại tổn thương chính là viêm mạn tính đường hô hấp và tình trạng tăng cảm ứng của phế quản. Dựa vào nguyên nhân mà người ta chia ra các thể bệnh chính gồm:

- Hen dị ứng (atopic asthma): Hen thường do kích thích của các tác nhân bên ngoài môi trường như bụi phấn hoa, lông súc vật và thực phẩm… Cơn hen thường xuất hiện bất ngờ nhưng cũng thoái lui đột ngột, dễ tái diễn. Bệnh thường gặp ở trẻ em và có tính gia đình rõ rệt.

- Hen không do dị ứng (nonatopic asthma): Bệnh thường do các vi khuẩn, virus gây nên viêm đường hô hấp mạn tính.

- Hen do thuốc: Có rất nhiều loại thuốc có thể gây ra cơn hen, thường gặp nhất là aspirin.

- Hen do nghề nghiệp: Người bệnh hít phải những loại bụi, các chất khí hoặc tiếp xúc các hoá chất kích thích co thắt phế quản và tăng tiết nhầy phế quản.

Cơn hen thường xuất hiện đột ngột, về đêm hoặc khi thay đổi thời tiết. Triệu chứng báo trước là hắt hơi, sổ mũi, ngứa mắt hoặc đỏ mắt, ho khan vài tiếng cò cử mà người ngoài cũng nghe thấy, khó thở tăng đều dần, phải tỳ tay vào thành giường để thở, mệt mỏi, toát mồ hôi, tiếng nói ngắt quãng. Cơn khó thở kéo dài 5 đến 10 phút, có khi hàng giờ, có khi cơn liên miên cả ngày không dứt, sau đó giảm dần và kết thúc là một trận ho và khạc đờm. Đờm dãi màu trong quánh và dính, khạc được càng nhiều đờm càng dễ chịu.

Trong cơn hen, lồng ngực căng to, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, mặt tím tái, khám phổi nghe thấy rì rào phế nang giảm, có vùng phổi thở bù, nhiều tiếng ran rít và ran ngáy khắp hai phế trường. Gõ lồng ngực trong. Sau cơn hen khám phổi có thể không thấy gì đặc biệt. Khám tim thấy nhịp tim nhanh 120 – 130 lần/phút, nhịp xoang có khi loạn nhịp ngoại tâm thu, huyết áp tăng.

Theo Y học cổ truyền, hen phế quản thuộc phạm trù “háo suyễn” “đàm ẩm”.

Nguyên nhân gây bệnh do ngoại cảm phải ngoại tà bên ngoài, ăn uống tình chí thất thường, làm việc quá sức. Về tạng phủ, do sự thay đổi hoạt động của tạng phế và thận, vì thế tuyên giáng và thận nạp khí, bệnh có liên quan mật thiết với đàm. Đàm là sản vật bệnh lý do tỳ hư không vận hoá thuỷ thấp, thận dương hư không ôn tỳ dương vận hoá thuỷ cốc và không khí hoá được nước, phế khí hư không hoá giáng thông điều thuỷ đạo. Trên lâm sàng thấy các hiện tượng đàm nhiều, khó thở ngực đầy tức.

Hen có nhiều thể bệnh với các bài thuốc khác nhau như sau:

1. Thể hen hàn:

Triệu chứng:

Thở gấp, trong hầu có tiếng hen rít, ngực bí, đờm trong loãng, miệng không khát, thích uống nóng, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch phù hoạt.

Bài thuốc:

Xạ can 10g, Tế tân 8g, Ma hoàng 12g, Ngũ vị tử 6g, Bán hạ 6g, Tử uyển 8g, Đại táo 3 quả, Sinh khương 3 lát, Khoản đông hoa 10g.

2. Thể hen nhiệt:

Triệu chứng:

Hen suyễn gấp, trong hầu có tiếng khò khè, đàm đặc ho khó ra, trong ngực bí, thở mạnh, miệng khát thích uống lạnh, miệng đắng, mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Bài thuốc:

Bạch quả 10 quả (liên vỏ cùng đập), Cam thảo 6g, Hạnh nhân 8g, Tô tử 12g, Hoàng cầm 8g, Bán hạ 6g, Tang bạch bì 10g, Khoản đông hoa 10g.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang.

Lương y Hoài Vũ

Đông y trị ho

Ho là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là do cảm cúm, viêm họng, do phế quản phế viêm, phế nhiệt, do đàm ẩm, do hàn thấp... Bởi thế cho nên mỗi thể bệnh mỗi kiểu bệnh cần có phương pháp và bài thuốc điều trị tương ứng. Xin được giới thiệu một số bệnh dưới đây. Bạn đọc có thể tham khảo và áp dụng khi cần.

Cátcánh.

1. Ho khan, ho không có đờm, ho liên tục, đã dùng nhiều thuốc mà không kết quả (do phế nhiệt). Dùng một trong các bài thuốc dưới đây:

Bài 1: Lá xương sông, lá dâu, lá mã đề, rau má. Mỗi thứ một nắm rửa sạch, nấu nước uống trong ngày

Bài 2: Cát cánh 12g, bách bộ 12g, trần bì 12g, hoàng cầm 12g, chi tử 12g, sa sâm 15g, mạch môn 15g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Bán hạ 10g, hậu phác 12g, mạch môn 15g, thiên môn 15g, tang bạch bì 12g, bạch mao căn 15g, lá tre 15g, rau má 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Sa sâm 16g, tang diệp 16g, bạch thược 12g, rễ xương xông 12g, mã đề thảo 16g, cát cánh 12g, hắc táo nhân 16g, ngũ vị 16g, bán hạ 10g, ngân hoa 12g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trần bì.

2. Đau cổ họng, ho có đờm đặc, khó thở, tiếng nói thô, toàn thân mệt mỏi, có thể sốt nhẹ. Hãy dùng một trong các bài dưới đây:

Bài 1: Hoàng cầm 12g, cát cánh 16g, mạch môn 16g, sài hồ 12g, kinh giới 12g, ô mai 10g, cam thảo 12g, ngân hoa 12g, tía tô 12g, sinh khương 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Bạch linh 10g, bạch thược 12g, bối mẫu 10g, tang bì 12g, cát căn 12g, trần bì 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, xa tiền thảo 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Cát cánh 12g, mạch môn 16g, ma hoàng 12g, xạ căn 12g, bách bộ 12g, mơ muối, trần bì 16g, tía tô 16g, ngũ vị 16g, hoàng bá 12g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Rễ chanh 12g, rễ xương sông 12g, tang bạch bì 12g, tía tô 16g, sinh khương 6g, xa tiền 12g, xạ căn 12g, huyền sâm 12g, bạch linh 12g, trần bì 12g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trong khi dùng thuốc uống, có thể kết hợp dùng bài lá xông như sau: Lá tre, lá mít, tía tô, kinh giới, bạc hà, lá chanh, lá xương sông, lá gừng, lá sả, lá hương phụ. Mỗi thứ 1 nắm rửa sạch cho vào xoong đổ nước nấu sôi rồi tiến hành xông cho bệnh nhân. Mục đích là giải cảm, thông thoát mồ hôi, tuyên thông phế khí, điều hòa âm dương, chống viêm nhiễm. Chú ý: khi xông cần tiến hành trong buồng kín, tránh gió lùa.

Hậu phác.

3. Ho nặng tiếng, đờm loãng, bệnh nhân khó thở, ho nhiều về đêm, chân tay lạnh, đi ngoài phân lỏng, cơ thể yếu mệt, chứng trạng này thường ở người cao tuổi. Hãy dùng một trong những bài thuốc dưới đây:

Bài 1: Xuyên khung 12g, đương quy 12g, kinh giới 16g, tía tô 12g, trần bì 12g, tế tân 12g, ngũ vị 12g, quế 10g, kiện 10g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, cam thảo 12g, sinh khương 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng thuốc trong 15 ngày liên tục. Công dụng: Ôn ấm phế trường, tiêu đờm, chỉ khái.

Bài 2: Bạch linh 12g, cát cánh 12g, ngũ vị 12g, xa tiền 12g, trần bì 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, nhục quế 10g, thiên niên kiện 12g, sinh khương 6g, lá xương sông 16g, lá táo 16g, chích thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: Trừ thấp hàn, ôn ấm trung nguyên, tiêu đờm giảm ho. Nếu bệnh nhân suy nhược ăn uống kém gia thêm: Sa sâm 16g, đương quy 16g, hoàng kì 12g, bạch truật 16g, thủ ô chế 16g, đại táo 12g.

Bài 3: Tang bạch bì 16g, tía tô 16g, xuyên khung 12g, bạch linh 12g, bạch thược 12g, bán hạ 12g, xạ can 12g, ngũ vị 12g, trần bì 12g, mơ muối 12g, kinh giới 16g, sinh khương 6g, nhục quế 10g, thiên niên kiện 10g, đương quy 16g, chích thảo 12g, phòng sâm 16g, bạch truật 12g, mạch môn 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: Trừ hàn tuyên phế, tiêu đờm giảm ho, hạ khí, điều nguyên.

Lương y Trịnh Văn Sỹ

4 bài thuốc trị chứng đau thắt ngực

Theo y học cổ truyền, đau thắt ngực thuộc phạm vi các chứng hung tý hoặc tâm thống. Bệnh do tổn thương ở 2 tạng tâm và tỳ. Tỳ dương vận hoá kém sinh ra đàm trọc. Đàm trọc, huyết ứ lâu ngày gây trở ngại cho tâm mạch. Tâm dương không thông suốt dễ sinh ra các chứng đau ngực, nhất là khi bị kích hoạt bởi hàn tà hoặc những nội thương thất tình như căng thẳng, lo âu, tức giận.

Triệu chứng: cơn đau thắt ngực thường xảy ra ở vùng ngực trái, phía sau xương ức. Người bệnh có cảm giác nặng ngực hoặc như bị bóp chặt lồng ngực. Cơn đau có thể lan lên vai trái, lên cằm hoặc chuyển xuống mặt trong cánh tay trái. Đôi khi, người bệnh có cảm giác như bị ngộp thở, mặt tím tái, người vã mồ hôi. Cơn đau thường kéo dài từ vài phút đến 15 phút. Người bệnh sẽ trở lại bình thường sau khi nghỉ ngơi, khi điều hoà được cảm xúc hoặc sau khi đã dùng thuốc giãn mạch. Nếu cơn đau xảy ra thường xuyên, cả khi người bệnh nghỉ ngơi hoặc đau không thuyên giảm khi đã dùng thuốc giãn mạch cần nghĩ đến nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Tam thất

* Nguyên tắc điều trị: chống co thắt, hoạt huyết thông mạnh. Mục đích là làm cho mạch vành được lưu thông, giảm cơn đau. Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc có tác dụng trị chứng đau thắt ngực.

Bài 1: đan sâm 20g, hà thủ ô 16g, hoàng kì 16g, xuyên khung 12g, đương quy 12g, cát căn 20g, liên nhục 16g, chích thảo 12g, đại táo 12g, hắc táo nhân 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: thư giãn, hoạt huyết, dưỡng tâm an thần.

Bài 2: đan sâm 16g, phòng sâm 16g, thục địa 12g, xuyên khung 12g, bạch thược 12g, hắc táo nhân 12g, viễn chí 12g, thổ phục linh 16g, kê huyết đằng 12g, tô mộc 20g, ích mẫu 16g, ngải diệp 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: hoạt huyết thông mạch, giảm đau an thần.

Bài 3: hoài sơn 16g, liên nhục 12g, ích mẫu 16g, biển đậu 12g, nga truật 12g, kê huyết đằng 12g, cát căn 16g, hương phụ (chế) 12g, trần bì 10g, đan sâm 16g, thảo quyết minh 16g, viễn chí 12g, đại táo 12g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: dưỡng tâm, thông mạch, thư giãn cơ và hoạt huyết.

Bài 4: đinh lăng (dùng rễ) 20g, hoàng kì 16g, đan sâm 16g, tam thất 12g, ích mẫu 16g, thông thảo 4g, cát cánh 10g, đương quy 12g, xuyên khung 12g, bạch thược 12g, phục thần 10g, lạc tiên 16g, hắc táo nhân, viễn chí 12g, đại táo, cam thảo 12g, uất kim 10g, hồng hoa 4g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: giảm đau, an thần, chống xơ vữa, giảm mỡ máu.

Lưu ý:

- Để phòng bệnh, điều hết sức quan trọng là người bệnh cần xây dựng cho mình một lối sống hòa bình, thư thái, lạc quan. Tránh những chấn thương về tinh thần tình cảm, đúng như danh y Tuệ Tĩnh đã nói: "thanh tâm quả dục".

- Bệnh nhân không được lao động nặng, không được gắng sức, tập thể dục nhẹ nhàng, hợp với sức khỏe, hợp với tuổi tác.

- Ăn uống thanh đạm, giảm mỡ, tăng cường rau xanh và các loại đậu. Không hút thuốc lá, hạn chế bia rượu.

Lương y Trịnh Văn Sỹ

Bài cổ phương trị đậu chẩn nhập nhãn

Đậu chẩn nhập nhãn là chứng bệnh thường gặp ở trẻ em, bệnh có thể biểu hiện ở một hoặc cả hai mắt. Bệnh do nhiều nguyên nhân tạng nhiệt độc, nội tạng hư nhiệt... khi gặp các tác nhân gây bệnh đậu chẩn sẽ phát bệnh trong cơ thể và nhãn trung (mắt).

Nguyên nhân thường gặp là do khi mang thai người mẹ ăn các thức ăn nóng, độc tà không thải trừ được mà lưu lại ở thai nhi, khi thai nhi mọc đậu chẩn nhân lúc ngũ tạng đều nhiệt hoặc can tạng nhiệt nặng mà gây ra.

Tùy từng chứng trạng mà dùng bài thuốc phù hợp như sau:

Ðậu chẩn nhập nhãn mục

Triệu chứng: Bệnh nhân ho, sốt, chảy nước mắt nước mũi, trên da mọc các nốt đậu hoặc sởi; mức độ nhiều ít tùy thuộc từng cơ thể nhưng thường thưa thớt, rải rác khắp thân mình, mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, trong mắt mọc các nốt chẩn hoặc các nốt đỏ như cục máu, người mệt mỏi, háo khát, tiểu tiện vàng sẻn, đại tiện táo, mạch tế sác.

Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc, thấu chẩn.

Bài thuốc: Lương can tán: cam thảo 12g, thảo quyết minh 16g, cốc tinh thảo16g, xích thược dược 16g, thiên hoa phấn 24g, lục đậu bì 24g. Các vị sao giòn tán mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần từ 12-20g, với nước và 1 thìa mật ong.

Ðậu chẩn thương nhãn trung

Triệu chứng: Bệnh nhân sau khi mọc đậu hoặc sởi; đậu hoặc sởi đang bay hoặc đã bay, trong mắt tự nhiên xuất hiện một nốt đỏ tươi dần dần thành cục, đỏ như miếng tiết, chảy nhiều nước mắt, mắt đau, cộm không muốn mở mắt, người mệt mỏi, thân mình nóng, háo khát, tiểu tiện vàng sẻn, đại tiện táo, mạch tế sác.

Phương pháp điều trị: Lương huyết, hòa giải, thấu chẩn.

Bài thuốc: Thông thần tán: bạch cúc hoa 16g, mật mông hoa 16g, thạch quyết minh 16g, cam thảo 16g, cao bản 16g, lục đậu bì 16g, cốc tinh thảo 16g, hoàng cầm 16g, thiền thoái 16g, mộc tặc 16g. Thiền thoái bỏ đầu,... tất cả các vị sao giòn tán mịn.

Ngày uống 3 lần sau bữa ăn, mỗi lần từ 12-20g với nước chín.

BS. Trần Xuân Nguyên

Chén trà thuốc chữa bệnh

Đối với nhiều người, uống thuốc là một điều rất khó chịu, đặc biệt là thuốc thang. Có cách dùng thuốc khác rất thoải mái và dễ chịu đó là uống trà thuốc.

Trà thuốc là một dạng thuốc hãm, là một hình thức chế biến thuốc khác, thân thiện hơn, dễ sử dụng cho bệnh nhân hơn là hình thức thuốc sắc, thuốc tễ, thuốc hoàn... Sau đây là một số bài thuốc tiêu biểu được chế biến dưới dạng trà:

Trà bổ tỳ:

Nhân sâm (đảng sâm), bạch linh, bạch truật, cam thảo.

Tác dụng: ích khí, kiện tỳ, dưỡng vị. Thích hợp với chứng tỳ vị khí hư, sắc mặt vàng héo, tiếng nói nhỏ yếu, tứ chi vô lực, bụng đầy chậm tiêu, ăn kém, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt, mạch tế nhược hoặc trầm hoãn.

Trà tiêu độc:

Sài đất, thổ phục linh, cỏ mực, cúc tần, kim ngân hoa. Hãm với 1 lít nước sôi, lọc bỏ bã, uống cả ngày. Tác dụng: giải độc gan, làm đẹp da mặt, điều trị mụn nhọt, mụn trứng cá, các vết lở loét ngoài da.

Kim ngân hoa

Kim ngân hoa

Trà trị cảm, tiêu đờm:

Trần bì (vỏ quýt), cam thảo, gừng tươi. Tác dụng: khu đờm, bình suyễn: thuốc kích thích niêm mạc đường hô hấp, làm tăng dịch tiết, làm loãng đờm, dễ khạc ra. Trị ho có đờm (do cảm hàn), ho do họng viêm, phế quản viêm.

Trà trị viêm gan cấp tính: nhân trần 300g, sinh đại hoàng 60g, trà xanh 30g.

Ba vị tán vụn, mỗi ngày lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 10 - 15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt lợi thấp, thông phủ, thoái hoàng; dùng để chữa viêm gan vàng da cấp tính có sốt.

Nhân trần mát gan, tiêu độc

Nhân trần mát gan, tiêu độc

Trà hạ áp: hoa hòe, mã đề, rễ nhàu, táo nhân, cỏ xước, sinh địa, ngưu tất.

Tác dụng: hạ huyết áp, thay đổi trị số huyết áp khi dùng dài ngày. Trà hạ áp ổn định được huyết áp ở giai đoạn 1 và 2 của bệnh tăng huyết áp. Sau khi ngừng dùng không thấy có hiện tượng nẩy ngược của huyết áp. Thuốc có khả năng giữ huyết áp ổn định trên những trường hợp tăng huyết áp nhẹ và trung bình.

Hoa hòe

Hoa hòe

Trà hạ mỡ máu:

Ngưu tất thái lát mỏng 12g, hằng ngày có thể sắc hoặc hãm bằng phích nước nóng, uống thay nước trong ngày. Tác dụng của ngưu tất làm giảm cholesterol và triglycerit đã được nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu và kết luận, đã được áp dụng vào điều trị ở Việt Nam trong vài chục năm nay.

Ngưu tất

Ngưu tất

Bài thuốc này rất đơn giản, sử dụng dưới dạng chè thuốc nên rất hay có thể dùng bài thuốc này trong một thời gian dài.

Hoặc vỏ đậu xanh và lá sen tươi, mỗi vị lượng bằng nhau khoảng 10 - 20g. Cả hai vị thuốc này hợp thang sắc uống hằng ngày thay nước chè. Hoặc cũng có thể hãm thuốc bằng phích nước sôi. Có thể chỉ cần dùng một mình vỏ đậu xanh cũng được

Khổ qua (mướp đắng)

Khổ qua (mướp đắng)

Trà hạ đường huyết: trà khổ qua.

Trái khổ qua tươi, để cả hạt, thái mỏng, phơi khô, dùng trái già (không dùng trái chín). Hãm nước sôi dùng như nước trà.

Các chất trong khổ qua có tác dụng sinh học giống như insulin và kích thích tuyến tụy tăng cường tiết insulin theo nhu cầu của cơ thể, một số thành phần trong khổ qua giúp cơ thể ức chế sự chuyển hóa và hấp thu đường, ngăn ngừa bệnh đái tháo đường và ổn định đường huyết ở người đái tháo đường.

Trà giảm cân: trà bí đao.

Cách làm: cho nguyên quả bí còn vỏ và ruột lẫn hạt vào nồi, đổ đường nâu và long nhãn vào, đảo đều, ướp trong 30 phút. Đun bí trên bếp lửa nhỏ. Khi sôi cho lửa nhỏ, hầm khoảng 2 tiếng, tới khi bí nát nhừ, nước bí nâu và sánh. Múc vào rây mắt nhỏ và ép lọc nước cốt, bỏ bã.

Bí đao

Bí đao

Cất trà vào bình thủy tinh đã đun tiệt trùng, đậy kín để ngăn mát tủ lạnh dùng dần. Thành phần chủ yếu của bí là nước, nhưng khi được hấp thụ vào cơ thể có tác dụng hạn chế sự giữ nước.

Bí xanh giúp cơ thể thải được chất độc, mỡ và cả các viêm mô tế bào ra ngoài. Vì thế bí xanh không những giúp giảm cân hiệu quả mà còn có tác dụng làm đẹp da.

Ngoài ra, trà xanh cũng là một loại thức uống phổ biến hằng ngày giúp thanh nhiệt cơ thể, ngoài ra nó còn giúp thanh lọc các chất độc hại trong cơ thể và giúp giảm cân hiệu quả. Loại đồ uống này có chứa nhiều chất chống oxy hóa, vì thế nó rất tốt cho hệ tiêu hóa, làm giảm căng thẳng, mệt mỏi và tăng cường quá trình trao đổi chất trong cơ thể, từ đó làm hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh béo phì.

Trà chữa mất ngủ: trà lá tre:

Lá tre tươi 30g, đăng tâm thảo 5g. Hai thứ cho vào bình kín, hãm với nước sôi, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: thanh tâm giáng hỏa, trừ phiền, lợi niệu, an thần, thường dùng cho những người bị mất ngủ do mắc các bệnh có sốt cao khiến cho tâm âm bất túc, môi khô miệng khát, tâm thần bất định, mê sảng bồn chồn không yên, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...

Ngoài ra, có tác dụng an thần, trị mất ngủ có thể dùng trà tâm sen, trà lá vông, trà lạc tiên...

Trà điều trị thấp khớp: lá lốt, thiên niên kiện, cỏ xước, hà thủ ô đỏ, sinh địa, sài đất, quế chi, thổ phục linh. Công dụng: điều trị các chứng đau nhức xương khớp, đau lưng, đau gối. Mỗi lần dùng 1 gói, hãm với 200ml nước sôi trong 15 phút. Bỏ bã, uống nước. Mỗi ngày dùng 20 - 30g.

Trà nhuận gan: nhân trần, trâm bầu.

Theo sách thuốc cổ, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn; vào được bốn đường kinh tỳ, vị, can và đởm; có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi mật thoái hoàng, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp.

Theo y học hiện đại, nhân trần có tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm. Có 30 chất trong dịch chiết Metanol từ lá và hạt trâm bầu có cấu trúc flavovoid như quadrangularol B, kamatakein, trihydroxy-dimetoxyflavon, methyl quadrangulate A, nor quadrangularic acid, vitexin, acid betulinic… có tác dụng chống lại các tác nhân gây tổn thương cho các tế bào gan, nhờ đó lá trâm bầu có tác dụng bảo vệ tế bào gan.

Dùng dạng bột hoặc nấu nước uống như nước trà. Ngày dùng 20 - 30g. Công dụng nhuận gan, điều trị các chứng ăn uống không ngon miệng, mụn nhọt, táo bón.

Tất cả các loại kể trên đều là thuốc có tác dụng cải thiện và điều trị bệnh. Do đó, nếu dùng một thời gian mà hiệu quả chưa như ý thì cần có sự hướng dẫn của người có chuyên môn. Một số loại trà tươi đơn giản có thể tự chế biến dùng tại nhà, một số loại trà khác được chế biến sẵn có thể tìm mua tại các nhà thuốc.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Thời trang và các minh tinh thời hoàng kim Hollywood bên dòng TevereThời trang và các minh tinh thời hoàng kim Hollywood bên dòng TevereĐường Hồ Chí Minh huyền thoại, xưa và nayĐường Hồ Chí Minh huyền thoại, xưa và nayNhững câu chuyện hiến tạng đầy cảm độngNhững câu chuyện hiến tạng đầy cảm động

(SKĐS cuối tuần)

Đông y điều trị nghẹt mũi

Thời tiết chuyển mùa, trẻ em,người có cơ địa dị ứng với thời tiết thường dễ ngạt mũi. Chưa hẳn là ốm để dùng thuốc, nhưng sự ngạt mũi, khó t...